Thái Vi

February 6, 2011

tổng kết năm cũ cái nhỉ?

Filed under: Films,lin tin — marcofogg @ 10:45 am

Bỗng dưng một ngày kia, chợt nhớ đến mình cũng từng chơi blog, và có 1 cái blog như thế này. Mò mãi mới sign in đúng được cái username và password. Giời thì biết bloggin’ cái gì bây giờ nhỉ? Thực tình trong năm qua cũng có nhiều cái định viết nhưng cứ mỗi lần như thế cái sự lười lại nổi lên (với biểu hiện là chậc lưỡi một cái, một mình mình sướng là đủ) nên lại thôi. Giờ thì không nhớ nổi nữa rồi. Đành cứ tổng kết tổng kiếc vậy (thực ra là khoe khoang chém gió tí) rồi tính sau

Mình vốn rất thích các con số (chẳng hạn như  qua việc rất hay làm data) dù trí nhớ thì tồi thôi rồi. Đành mở tàng kinh các ra check. Túm gọn là trong năm 2010, từ 1/1 đến 31/12, mình đã nghía được tổng cộng 443 phim các loại: ngắn, dài (fiction) và tài liệu (non-fiction) chưa kể một số phim xem lại (không nhiều lắm) ;)) Nhìn chung một năm miệt mài ăn-xem, ngủ-xem, chơi-xem nhưng vẫn không đạt được cột mốc 500 😦

Mở đầu 2010 là Xia Nu (A Touch of Zen, 1969) của đạo diễn Đài Loan Hồ Kim Thuyên (King Hu) va kết thúc bằng Sud sanaeha (Blissfully Yours, 2002) của anh zai Apichatpong ‘Joe’ Weerasethakul.

Cũng trong năm 2010, mình đổ bệnh tương tư với anh Hong Sang-soo, đồng thời tái khám phá lại anh Jang Sung-woo qua The Road to the Racetrack (1991). Chả biết mọi người thế nào, chứ với tớ, dường như anh Jang còn xứng danh là Bad Boy hơn nhiều so với Kim Ki-duk (ah ah tiết lộ một điều kiểu như trivia nhá: anh Hong va anh Kim là sinh cùng 1 năm, tuy nhiên một anh số ngày càng vượng còn anh kia thụt lùi thê thảm luôn).

Ah ha, năm 2010 cũng là năm mình finished trọn vẹn filmography của anh zai Thái Minh Lượng (Tsai Ming-liang). Đúng là một Master of Cinema 😦 Túm lại là 2010 là một năm tớ không còn xem phim tràn lan như trước nữa mà tập trung đánh có trọng điểm, công phá lô cốt hoành tráng :D.

Nhìn chung, 2010 là năm mở đầu cực đã cho việc xem phim của mình. Cá nhân mình khám phá (mở rộng) được nhiều chân trời kiến thức mới (chém gió phần phật), từ xa xôi hiểm trở như Argentina, Brazil, Hi Lạp cho đến gần shit như Thái Lan, Indonesia. Nói đến hai nước này, lòng quả thật buồn ghê gớm, điện ảnh khu vực người ta đã tiến đến level nao đó rất chi là cao siêu rồi í, còn với chúng ta, thế giới chỉ biết có 2 người: 1 là Đặng Nhật Minh còn anh kia là Trần Anh Hùng :)) (thực ra ở thể loại non-narrative người ta còn biết đến một cái tên VN khác nữa là Trinh T. Minh-ha, chỉ có điều chị í cũng là một trường hợp không mấy khác với Trần Anh Hùng)

(Hơ, tự nhiên lí bí, chả biết viết gì nữa về 2010, hmm)

Mở đầu năm 2011, tức là trong hơn 1 tháng qua, (trộm vía, nhờ cái cột mốc, bản lề 2010), tớ không thể sướng hơn được nữa khi rốt cuộc đã hoàn tất filmography của anh zai Hong Sang-soo. Đúng là một Master of Cinema! Điều đáng nói là cuối cùng thì Day and Night (2008) của anh í đã được xuất ra định dạng DVD, đẩy orgasm lên tối đa đối với các fan hâm mộ anh í :X như kiểu mình ở hiền gặp lành í 🙂

Hương khói nồng nàn quá, thôi khoe nốt phát cuối rồi kết cái bài tổng cục mở hàng năm mới vậy.  Đã hoàn tất filmography của anh zai Pen-Ek Ratanaruang. Tự hỏi bao giờ thì anh ấy làm tiếp được một masterpiece như Last Life in the Universe (2003) và được vinh danh ở Cannes như anh bạn đồng hương Joe? Dường như Nymph (2009) là một nỗ lực như thế, dù không mang lại kết quả mong đợi (có lẽ vì thiếu Christopher Doyle, Tadanobu Asano và Takashi Miike chăng?)

November 8, 2009

cuối tuần tự thú trước vợ

dạo này quả là có hơi bị quá tải, lượn lờ suốt ngày, phim xem ít, nếu đã xem thì xem quá nhiều, thường là 2 or 3 phim từ tối đến đêm, nên mệt.

sách vẫn tình trạng cũ, 2 không (không mua, không đọc). hehe thực ra mới đi shoppin’ nhưng lướt qua không thấy mấy cuốn cuốn hút mình. Đã sở hữu Nhiệt đới buồnDiệt Tần 5 (dĩ nhiên, là vợ đọc, tớ cũng muốn đọc, nhưng lười). Cuốn gần đây nhất tớ vừa kết thúc quá trình đọc là Solaris (mục đích rất đơn giản là để xem bộ phim cùng tên của Andrei Tarkovsky, nghe nói nặng nề lắm haizzz). lấy làm ngạc nhiên là một bản dịch tốt vậy (dù có vài lỗi văn bản nho nhỏ) mà không mấy nghe ai nhắc nhở đến. Thực ra, đã sờ đến cuốn Ngầm song sau mấy lần nỗ lực đều mang lại kết quả là cất trở lại giá sau khi lật vài chục trang (không hiểu mình nữa). Hiện đang ngâm cứu Alain Robbe-Grillet: Sự thật và diễn giải (đọc rất chậm với mục đích chủ yếu là killin’ time. tuy nhiên, có một điều tớ thấy khá vui là trong hai năm trở lại đây, tớ rất ít thấy sách Việt Nam có thêm tờ hiệu đính lỗi. ngoài cuốn này và Nghệ thuật là gì? thì tạm thời tớ không nhớ ra thêm cuốn nào nữa).

về phim:

+ (500) Days of Summer [2009, Marc Webb]: xem rạp và thấy overrated. cắt dán kiểu Memento không bao giờ là yếu tố đảm bảo cho việc thực sự tạo ra một bộ phim hay.

Rate: 6.0/10

Note: cậu Hisashi dịch phim này hay.

+ A Chinese Odyssey Part 1 & 2 [1994, Lưu Trấn Vĩ] thêm một nỗ lực làm lại danh tác [ngớ ngẩn và chán ngán] Tây Du Ký nữa [tớ thực sự tự hỏi người ta đã phí phạm không biết bao nhiêu sức lực và tiền bạc cho một saga phải nói là dở đến vậy, ngoài series do Đại lục làm chiếu trên TV hồi tớ và các bạn còn bé tí và say mê, tớ còn xem một phim mà Shaw Brothers làm nữa]. Về tổng thể, Tây Du Ký của Lưu Trấn Vĩ [đạo diễn kiêm tác giả kịch bản] quá ôm đồm và thừa thãi, mang nặng tính mùi mẫn câu khách rẻ tiền [dù là hơi lạ bởi Châu Tinh Trì cũng đóng phim tình cảm cơ đấy], trong khi vẫn phải cân đong đo đếm làm sao cho Tinh Tinh phát huy được lối hài nonsense đặc sản [sic]. Xem phần trả lời interview giữa Lưu Trấn Vĩ và một ông nào đó [hình như là thầy giáo dạy điện ảnh ở Hongkong hoặc đại lục] trong phần feature của DVD,  mới thấy hết sự phi lí trong thị hiếu của khán giả. Không thể hiểu nổi và nực cười khi đây là một cult classic đối với thanh niên Trung Quốc!

Rate: 5.5/10

Note 1: Thực chất đây là một phim được tách làm hai, chắc nhằm mục đích câu khác. Tuy nhiên, nếu xem dưới góc độ hai phim thì phần 2 chắc chắn khá hơn phần 1, bởi có plot rõ ràng hơn, cũng bớt đất diễn hài của Châu mà thay vào đó là biểu đạt nội tâm và mấy pha mùi mẫn thực sự [nếu bạn xem và thích các phim của Châu Tinh Trì, thì đây là cơ hội hiếm hoi. tranh thủ nói xấu vợ tí haha tớ đang tưởng tượng cảnh vợ tớ gục lên vai tớ lau nước mắt khi xem đoạn cuối phim này :)) ]

Note 2: [spoiler] hehe phần 2 có một đoạn spoof Ashes of Times của Vương Gia Vệ :)) dù đây không phải là một sáng tạo mới mẻ gì của Châu Tinh Trì song tớ vẫn thấy vui vui.

+ Le Samouraï [1967, Jean-Pierre Melville] phim quá hay, minimalist thriller/crime. xem xong, phải công nhận sức ảnh hưởng từ phim này quả là lớn. Ngô Vũ Sâm từ nhiều năm nay không biết bao nhiêu lần hứa hẹn sẽ remake phim này. toàn hứa hão và chắc chắn là shit.

Rate: 8.5/10

+ Hard-boiled [1992, Ngô Vũ Sâm]: phim “cuối cùng” Ngô Vũ Sâm làm ở Hongkong trước khi tếch sang Hollywood [2008 Ngô rốt cuộc cũng phải khăn gói quả mướp hồi hương và làm Red Clift-Xích Bích, mediocore và overrated]. Đấu súng điên cuồng, kính vỡ, thây người chết chất cao như núi, một dấu ấn đậm nét ‘author’ của Ngô. Xem xong tự hỏi một khi Châu Nhuận Phát bắt đầu khai hoả, bao giờ súng của anh mới hết đạn? [[câu trả lời: Ngô muốn tập cho khán giả thói quen tưởng tượng]

Rate: 6.5/10

Note: [Spoiler] trong đoạn gunfight tại bệnh viện ở cuối phim, có một cú long take gần 3 phút khá hay. nghe nói, Ngô còn muốn nó dài hơn, song do thiếu tiền, dù crew tình nguyện lao động không công, vẫn phải cắt. đáng tiếc! ngoài ra, hai đoạn anh Ngô làm caméo, đóng vai chủ quán jazz bar kiêm triết gia ban phát lời khuyên cho anh Châu, thừa thãi nhưng cũng vui vui.

+ The Killer [1989, Ngô Vũ Sâm] vì Từ Khắc sản xuất nên phim này quá bloody gore. và do vậy, là một mớ hỗn độn. chưa từng thấy một phim nào nhiều goof hơn phim này [cũng có thể do lần này tớ soi kĩ lưỡng và không buồn ngủ]. Đoạn đầu phim có thể dễ dàng nhận ra Ngô muốn remake Le Samouraï đến mức nào, song bởi vậy 99% khả năng sản phẩm mới, nếu có, sẽ shit đến thế nào.

Rate: 6.0/10

Note: Từ Khắc là quái vật ý tưởng, thiên tài về chi tiết nhưng nhảm nhí trong tổng thể.

Ngoài ra, đã xem Breaking News, Eye in the Sky, The Mission, xem lại PTU, Election 1 & 2, Running out of Time 1 & 2,Exiled. [sẽ short review riêng]

October 20, 2009

Snap-shot: Mixed theme [Classic+B/Kungfu+Porn]

+ Dry Summer [Susuz Yaz, 1964, Metin Erksan]: Là một trong bốn phim đầu tiên thuộc dự án phục chế và bảo tồn của World Cinema Foundation (WFC, mà Martin Scorsese làm chủ trò), Susuz Yaz có một vị trí đặc biệt quan trọng đối với nền điện ảnh Thổ Nhĩ Kỳ. Trước khi người ta biết đến những Fatih Akin hay Nuri Bilge Ceylan [dĩ nhiên là đoạn này tớ viết không chuẩn lắm vì mấy anh này cũng không thuần Thổ mấy, song nhìn chung thì vẫn là người Thổ hehe], chính nhờ giải thưởng Silver Bear của Berlin Film Festival 1964 mà bộ phim này giành được đã giúp nền điện ảnh Thổ Nhĩ Kỳ lần đầu tiên được giới thiệu với thế giới bên ngoài. Dĩ nhiên, bộ phim này có rất nhiều điều đáng để viết dài hơn như là nội dung hay thông điệp mà đạo diễn cánh tả Erksan muốn truyền tải hoặc hành trình gian khó để tới dự thi và nhận giải của nó, song cá nhân tớ thực sự khâm phục 100% các thao tác kĩ thuật trong Susuz Yaz [spoilers: tốc độ lia máy quay khủng khiếp, kĩ thuật cắt dựng theo tớ là cấp tiến ở thời điểm đó, đặc biệt có cảnh máy quay quay một vòng khiến tớ nhớ da diết Maya Daren :-*, hay đúng hơn là chồng nàng, Alexander Hammid]. Trăm nghe không bằng một lần được thấy, phim được watch free trên website The Auteurs. Highly recommended!

Rate: 9.0/10

+ The Housemaid [Hanyo, 1960, Kim Ki-young]: Kim Ki-young được đánh giá là một trong những đạo diễn xuất sắc nhất của điện ảnh Hàn Quốc với các bộ phim khai thác khía cạnh tâm lí [rùng rợn!] của các nhân vật nữ [female fatale]. Và cũng được đánh giá là phim kinh điển và hay nhất mọi thời đại của Hàn Quốc, Hanyo nằm trong dự án bảo tồn của WCF và watch free trên TheAuteurs. Thuộc thể loại psychosexual và melodramatic horror với một female fatale, song cá nhân tớ lại thấy đoạn kết của phim làm tổng thể The Housemaid giống một sản phẩm black comedy và dĩ nhiên là thú  vị [cũng có nhiều ý kiến khác, có người không thích, có người cho rằng kết vậy để tránh bị chính quyền kiểm duyệt, mấy bẹn cinephile Tây nói thế]. Mà có lẽ cũng chẳng cần phải nói nhiều về Hanyo nếu bạn chưa xem nó. Ngắn gọn một câu: The Housemaid nằm trong Top 3 favourite films của Martin Scorsese và luôn trong top 20 phim hay nhất mọi thời đại của Hàn Quốc ở mọi bảng bình chọn. Thế là quá đủ để quảng cáo về phim này.

Rate: 9.5/10

+ Monty Python’s Life of Brian [1979, Terry Jones]: Tất cả các sản phẩm gắn nhãn Monty Python thì không thể không nhộn nhạo được. Cá nhân tớ thì đã xem đi xem lại phim này tổng cộng ba lần trong một đêm. Lần đầu thì xem bản original, hai lần sau thì bật thêm commentary của các thành viên trong Monty Python tán phét về quá trình thực hiện bộ phim. Tớ rất thích bài hát kết phim của Eric Idle [vẫn nhớ khi vừa nhắc đến tên phim, lão Kv3 tình trai của tớ đã cất ngay giọng hát mãnh thú giả nai tơ của mình]. Cảnh này cũng nằm trong Top 10 scene gây tranh cãi nhất mà Telegraph hay Daily Mail mới đưa ra cách đây vài tháng gì đó [thực ra tớ nghĩ cảnh gây tranh cãi nhất trong bộ phim này phải là đoạn Graham Chapman trong vai Chúa đứng khoả thân bên cửa sổ trước vô số cặp mắt của các nữ diễn viên phụ là tín đồ Hồi giáo cơ đấy]. Dù các thành viên Monty Python luôn chối đây đẩy rằng bộ phim này chỉ để mua vui, song tớ vẫn nghĩ nó cực kỳ báng bổ đối với Thiên chúa giáo. Và nếu vậy thì dĩ nhiên là highly recommended! 🙂 [Life of Brian và tất cả những gì dính dáng đến Monty Python.]

Rate: 9.0/10

+ The East is Red [1993, Ching Siu-tung & Raymond Lee]: Từ Khắc thường được tán là Steven Spielberg của châu Á hay có bàn tay Midas chạm vào đâu thì chỗ đó hoá vàng để nói về các thành công thương mại cực lớn từ những bộ phim mà anh í có dính líu. Nhưng tớ nghĩ anh này giống như một con ngáo ộp. Nhiều phim dù người khác đứng tên đạo diễn song người ta vẫn dễ dàng nhận thấy “bàn tay vàng” xoa bóp khắp nơi của Từ Khắc, đơn cử trường hợp New Dragon Inn [Tân Long Môn Khách sạn, 1992, remake từ phim làm năm 1967 của đạo diễn King Hu, nhân tiện nói về ông này, Painted Skin (Hoạ bì, 2008, Gordon Chan) cũng được remake từ phim cùng tên năm 1993 của King Hu]. Về tổng thể, 99,9% các phim của Từ Khắc mà tớ xem [kể cả Blade (Đao, 1995) và Swordman (1990, đứng tên King Hu)] đều là shit, chủ yếu mang tính thương mại chiều lòng số ít khán giả Hongkong hoặc mấy zai Tây. Thế nhưng, nếu để ý kĩ thì trong các bô cứt đó đó đều có lẫn vàng, đó mới là điểm khiến tớ luôn hào hứng khi xem của Từ Khắc, và Đông Phương Hồng cũng vậy. Nhân tiện nói về thể loại wuxia, một thói quen khó bỏ gần đây của tớ là buổi đêm, trước khi đi ngủ thì bật kênh Calestial Movies để nghía các bộ phim không đầu không đuôi rất original [chứ không dây cáp và CGI lằng nhằng tràn ngập gần đây mà có lẽ bọn Tây ngu dính chưởng từ Ngoạ hổ Tàng long] của Shaw Brothers, nếu trộm vía phải phim của đạo diễn Chang Cheh hay Lau Kar-leung thì thật tuyệt, coi như cầm chắc 3-4.am mới khò khò là chuyện thường.

Rate: 6.0/10

+ All about Women [2008, Từ Khắc]: Là phim mới nhất mang nhãn hiệu Từ Khắc, như thường lệ All about Women chủ yếu nhằm vào các bạn nữ sến. Và cũng như thường lệ, phim có một số scene thật sự đáng xem.

Rate: 5.5/10

+ 2046 [2004, Vương Gia Vệ]: Bốn năm rồi tớ mới xem lại bộ phim này. Khi ấy, tớ xem mà chẳng hiểu mấy do không nắm bắt được nội dung và cũng chưa quen thuộc với style của Vương. Bốn năm sau, câu chuyện hiện lên một cách rõ ràng hơn, nhưng vẫn là bộ phim tớ ít thích nhất của Vương, dưới cả Blueberry NightAs tears go by.  Quá rối rắm và ôm đồm.

Rate: 6.0/10

+ In the Mood for Love [2000, Vương Gia Vệ]: Vương Gia Vệ đánh dấu năm cuối cùng của thiên niên kỉ thứ hai với một trong những bộ phim dễ xem và có kịch bản đơn giản nhất của ông. Tớ vẫn nhớ cảm giác thích thú của mình ở cái lần đầu tiên được ấy ah ah được xem. Tuy nhiên, cảm giác hiếm hoi được ấy gần như bị xoá sạch ở lần xem gần đây nhất. Ấn tượng đọng lại chỉ là những khung hình tuyệt vời từ máy quay của Christopher Doyle [chính nó đã cứu lấy câu chuyện buồn tẻ của Vương và mang lại bối cảnh rất nostalgia cho bộ phim này] và dĩ nhiên là phong cách cắt dựng quen thuộc của Vương. Rốt cuộc, với tớ, phim xuất sắc nhất của Vương vẫn là Chungking Express [California dreamin’ lalala] và dưới một chút là những Ashes of Times redux, Days of Being Wild, Happy Togethers. [tiếc là chưa tìm được Fallen Angels]

Rate: 7.5/10

Note: Niên dạng niên hoa là năm tháng tuổi hoa đẹp như hoa ah, các bác?

+ Kill Bill I & II [2003 & 2004, Quentin Taratino]: Rốt cuộc, nếu không phài vì dàn sao lấp lánh thì Kill Bill hoàn toàn xứng đáng được coi là một bộ phim B mẫu mực. Tớ vẫn cho rằng để thưởng thức đầy đủ Kill Bill, người ta không nên xem riêng thành hai phần mà nên gộp chung là một phim với độ dài hơn 3 tiếng. Có rất nhiều ý kiến tranh cãi về việc Taratino đã đạo khá nhiều [nếu không muốn nói là hầu hết, các bạn Tây nói thế] ý tưởng của người khác trong Kill Bill. Cá nhân tớ không quan tâm đến điều đó. Thử hỏi bây giờ, người ta có thể đào đâu mà lắm ý tưởng original đến thế, khi mà tất cả những gì điên rồ nhất, lố bịch nhất, sáng tạo nhất, giả dối nhất đều đã có trong lịch sử điện ảnh. Với tớ, Kill Bill chính là món quà mà Quentin Taratino dành để pay homeage tới những Shaw Brothers của Hongkong, các bộ phim B, samurai, noir của Nhật Bản, và đôi chút Western của Hollywood. Một bộ phim entertainment tuyệt hảo!

Rate: 8.0/10

+ Teeth [2007, Mitchell Lichtenstein]: Một bộ phim B rất fun và nếu bạn quan tâm đến feminism thì cũng đáng để bỏ ra tiếng rưỡi trong đời đấy  😀

Rate: 6.5/10

+ Secret Sunshine [2007, Lee Chang-dong]: Mật dương [Milyang] là bộ phim thứ hai của cựu Bộ trưởng Văn hoá Hàn Quốc Lee Chang-dong mà tớ được xem. Bộ phim tạo một câu hỏi to đùng và lơ lửng về đức tin mà tuỳ người xem có câu trả lời cho nó [cá nhân tớ thì rõ ràng là đây là một ‘antichrist’ version hehe]. Secret Sunshine thực sự là một phim drama hay và nặng nề. Nhưng với Lee Chang-dong, tớ thích Oasis hơn.

Rate: 8.0/10

+ Sexual Boundaries [2005, Clark Stewart] hehe soft porn from US và như thường lệ ngu hết đỡ …

Rate: 2.0/10

+ In the Sign of the Gemini & In the Sign of the Lion [1975 & 1976, Werner Hedman] Chắc chắn hai phim này nằm trong top những phim erotic/porn hay nhất thế giới và đập chết vô số/phần lớn phim ‘nghiêm túc’ mà Hollywood xuất xưởng mỗi năm. Tớ rất thích ý kiến của một comment trên imdb cho rằng thật thú vị khi ta ngồi/nằm rung đùi xem phim này vào một chiều Chủ nhật buồn tẻ thường lệ [dĩ nhiên không phải chiều Chủ nhật nào tớ cũng được lượn lờ với vợ – điều tớ thích nhất, nhưng dạo này tần suất có mặt trên cơ quan hơi bị cao huhu]. Classic Danish Erotica!

Rate: 7.0/10 [chung cho cả hai phim].

Note: Tiết lộ là tớ đã rung đùi rất phê giữa đêm hehe 😀

+ Batman [1989, Tim Burton]: Tập đầu tiên trong film franchise về anh chàng tỷ phú ham làm anh hùng đeo mặt nạ và có cánh. Dưới cái đũa của Tim Burton, bộ phim này tạo cảm giác cho người về một không gian noir và dark hơn nhiều so với các tập sau đó [tớ bắt đầu nghi ngờ khả năng Christopher Nolan đã mượn kha khá ý tưởng từ tập Batman cho Dark Knight] và đặc biệt tốt hơn rất nhiều so với mấy màn bay lượn ưỡn ẹo ngu đần của loạt hai, ba phim sau đó. Rõ ràng, với sự có mặt của Tim Burton, hai tập Batman đầu tiên chính là những phần hay nhất trong film franchise này. [Nolan cũng phải thừa nhận Burton đã tạo ra ngõ cụt trong việc làm các phần phim tiếp theo]

Rate: 7.0/10

+ Batman Returns [1992, Tim Burton]: Ba năm sau khi tạo ấn tượng tốt với Batman, siêu nhân Burton đã trở lại, lợi hại gấp nhiều lần. Mở đầu phim là một cảnh gây shock đối với các bậc cha mẹ nghĩ rằng con em họ có thể thoải mái ngắm nghía anh chàng đeo mặt nạn và có cánh này. Chắc chắn đây không phải là phim dành riêng cho trẻ em. Và có rất nhiều thứ khác nữa trong Batman Returns đáng để tán dương. Với tớ, đây chính là một masterpiece với đầy đủ phong cách của Burton [sẽ sớm xem Ed Wood, hứa thế!]

Rate: 8.5/10

Note: Chắc chắn Michael Keaton là chàng có cánh diễn tốt nhất, hơn rất nhiều so với những Val Kilmer [béo ị], George Clooney [dớ dẩn], và Christian Bale [tớ mà cao thêm 20cm nữa thì còn đóng đạt hơn]

+ The Wayward Cloud [2005, Tsai Ming-liang]: Tự nhiên giữa đêm tớ lôi phim này ra xem lại, chả biết vì sao. Nếu như ở lần đầu tiên là một cảm giác rất khó chịu không dễ miêu tả chính xác [có thể do đoạn opening điên rồ với dưa hấu và scene hardcore cuối phim cũng như nhiều chi tiết khác], thì với lần xem này, mọi thứ lại đảo ngược hoàn toàn. Một bộ phim đầy thi vị và chứng tỏ sự trưởng thành trong phong cách minimalism của đạo diễn người Malaysia.

Rate: 8.0/10

+ Rebels of the Neon God [1992, Tsai Ming-liang]: Thường thì với những đạo diễn lớn, phim đầu tay luôn bộc lộ không ít thì nhiều những yếu tố sẽ định hình thành phong cách và tạo dựng tên tuổi cho họ sau này. Dù rất không thích As tears go by, song nếu phải đưa ra trường hợp ‘nếu’ thì tớ sẽ nếu thế này: Nếu cho tớ xem phim này từ đầu và không nói title cũng như tên đạo diễn, tôi vẫn sẽ thốt lên một câu: ‘Ăn cắp của Vương Gia Vệ’. Và nó cũng hoàn toàn đúng với Rebels of the Neon God [dù cái mặt phèn phẹt của Lee Kang-sheng non choẹt khi ấy không lẫn vào đâu được]. Mở đầu phim cũng là một cảnh rất shock [với tớ]. Và khác với những bộ phim sau này mà tớ được xem, chưa bao giờ máy quay trong phim của Thái Minh Lượng lại ‘chịu khó’ di chuyển nhiều đến thế [dù vẫn dễ dàng nhận ra minimalism style của anh. Đây chính là trường hợp tôi muốn so sánh với As tears go by, với vô số cảnh slow motion]. Vì là tác phẩm đầu tay và vẫn còn đôi chút chính thống nên có lẽ đây cũng là phim dễ xem nhất của Thái Minh Lượng.

Rate: 7.5/10

Note:
A.Với bốn phim đã xem và đã thích, tôi tự hào khẳng định mình là fan của Thái Minh Lượng và ít nhất ba trong số đó nằm trong top favourite của mình.
B. Có khi nào các đạo diễn lừng danh Đài Loan khi khởi nghiệp toàn làm phim coming-of-age? [đã có trong tay trilogy coming-of-age của Hầu Hiến Hiền, sẽ sớm xem cho hết, hứa thế!]

+ District 9 [2009, Neil Blomkamp]: Ừm, khi những ấn tượng choáng ngợp qua đi và có thời gian kiểm chứng [hehe], bộ phim kinh phí được coi là thấp [30 triệu USD] của đạo diễn da trắng người Nam Phi này rõ ràng vẫn “quá Hollywood” với taste của tớ. Dù sao đây vẫn là phim xem được! [rất rất rất hiếm hoi của phim Mỹ ở tầm vĩ mô và ở các rạp chiếu phim Việt Nam về vi mô hehe]

Rate: 7.0/10

+ The Wrestler [2008, Darren Aronofsky]: Một nỗi thất vọng lớn lao! Và tớ vẫn chờ cơ may trên trời nào đó để được xem Requiem for a Dream [2000] và Pi [1998].

Rate: 6.5/10

+ Rambo IV [2008, Sylvester Stallone]: Haizzz…. không thể đỡ được.

Rate: 2.0/10

[thân mời các bạn chờ đọc phần Snapshot tiếp theo, nhiều khả năng sẽ là chủ đề tác giả hehe vì tớ vừa  shoppin’ được loạt boxset mới 😀]

September 14, 2009

ốm + mệt và nhiều thứ linh tinh khác

Filed under: lin tin — marcofogg @ 10:55 pm

dạo này có triệu chứng lạ. người luôn nóng nóng như là sốt. họng đau, ho suốt, hút thuốc không thấy ngon, ăn cơm thấy rất chán. Chả thèm gì, chỉ thèm ngủ. Học hành linh tinh, đến trường toàn nhìn thầy/cô rồi lăn ra ngủ vùi. nói chung là hỏng

dạo này phim cũng chẳng xem mấy, sách cũng chả đọc. shopping vừa phải, nếu không muốn nói là sụt giảm đáng lo ngại về tần suất cũng như quy mô cuộc chơi. tự nhiên có đôi chút thèm rượu, nhưng không dám uống. sợ xỉn lại mắng vợ, vợ đánh cho thì hư  người mà không biết kêu ai. nói chung dạo này hỏng toàn tập.

hôm nay tranh thủ lúc vợ đi làm, rón rén đi shoppin’. mua được 4,5 phim có takeshi kitano, kể cũng yên ủi phần nào ham muốn mãnh liệt, ham muốn tột cùng của tớ hớ hớ.

nói chung dạo này tơ hư, vợ đánh cũng đúng 😀 vợ nhỉ

September 5, 2009

chiều buồn nghĩ về một ẩn dụ cũ

Filed under: My Poems — marcofogg @ 12:47 am
Tags:

chiều buồn nghĩ về một ẩn dụ cũ

giữa chim và thép gai

chim tự chọn thép gai để chết [/tự do]

ngu như chim

và cứng nhọn như thép [gỉ]

bật tiếp một tập The Glory days [episode 10] để ngập lụt buổi chiều

chim bay đi…

nước luênh loáng

dương vật biện chứng

« Previous PageNext Page »

Create a free website or blog at WordPress.com.