Thái Vi

May 4, 2016

Top Film 2015

Filed under: 2015,Films,Top Film — marcofogg @ 1:20 am
Tags: ,
  • Số thứ tự không phải nhằm xếp hạng mà theo thời gian xem.
  • sẽ bổ sung review ngắn cho từng phim
  • sẽ bổ sung phim mới
  1. The Hateful Eight (2015) (8/10)
  2. Love (2015) (8/10)
  3. Schneider vs. Bax (2015) (8/10)
  4. Right Now, Wrong Then (2015) (8/10)
  5. Cemetery of Splendour (2015) (9/10)
  6. Mountains May Depart (2015) (7/10)
  7. The Lobster (2015) (8/10)
  8. Veteran (2015) (8/10)
  9. The Make-up Room (2015) (7/10)

April 6, 2011

Film of the Month: Febuary 2011

Filed under: Films — marcofogg @ 1:08 pm
Tags: , ,

Moy drug Ivan Lapshin (My friend Ivan Lapshin, Aleksei German, 1983)

Ngay từ giây phút đầu tiên, bộ phim đã khiến tôi phải há hốc mồm kinh ngạc. Chủ yếu dùng camera cầm tay, và rất nhiều cú long take cũng như tracking shot, My friend Ivan Lapshin giống như một cuốn phim tài liệu lịch sử quý giá. Phim dựng nên một nơi chốn nặc danh nào đó, một thị trấn nhỏ tàn lụi với những con người trần tục, nghèo đói, trầm uất. Hơn hết, phim miêu tả một cách lạnh lùng quá trình tha hoá không phanh về đạo đức và nhân tính của cả một lớp người nói chung trong xã hội (censored) thời hậu chiến, báo hiệu một thời kỳ khủng bố kinh hoàng sắp đến, trên quy mô lớn. Hoặc giả, nó ĐÃ tới, âm thầm và len lỏi, ít người nhận ra. Cả bộ phim là một loạt những sự kiện trong quá khứ được kể lại theo trí nhớ của người kể chuyện. Và đến tận cùng, người ta vẫn không rõ ai mới là nhân vật chính trong bộ phim này? Phải chăng đó là Ivan Lapshin? Một kiệt tác trên mọi phương diện của điện ảnh Soviet nói riêng và điện ảnh thế giới nói chung. Và kiệt tác là không tuổi. Ở một số nơi, vấn đề mà My Friend Ivan Lapshin đặt ra vẫn luôn rất mới và người dân những nơi đó có lẽ không bao giờ quên được.

March 30, 2011

Film of the Month: January 2011

Filed under: Films — marcofogg @ 11:42 pm
Tags: , , ,

 

Enter the Void (Gaspar Noé, 2009)

Rate: 5/5

Gaspar Noé vẫn vậy. Mỗi lần xem phim của ông,là một lần tôi ngả mũ kính phục trước tham vọng (đẩy lên tới hạn những đường biên có thể của ngôn ngữ điện ảnh?), sự khiêu khích khán giả về chủ đề  (dường như phi đạo đức) của bộ phim cùng những ý tưởng kì quái nhưng thiên tài trên phương diện kĩ thuật (quá trình sáng tạo tác phẩm) của Noé. từ I Stand Alone (1998) đến Irrévesible (2002). Lần này, Enter the Void, sau 8 năm chờ đợi, tiếp tục là một kiệt tác, tiếp tục là sự nối dài của một cơn điên loạn tập thể, đặc biệt trên phương diện kĩ xảo và camerawork. Tuy nhiên, điều khác biệt giữa Enter the Void với Irrévesible, đó là bộ phim mới mang tính nhân văn nhiều hơn, thậm chí còn có chiều sâu về triết lí (Phật giáo, luân hồi, quả báo…). Thế giới siêu hình trong Enter The Void chính là thành phố Tokyo hiện đại về đêm, và trong cái quan sát (camera), góc nhìn của (spoiler-kiểm duyệt) (hay là của chính Noé?) nó đựoc tái tạo lại đầy đủ phần rực rỡ nhất, song mang màu sắc ảo giác của ánh đèn neon, và phần còn lại tăm tối, chật hẹp, bẩn thỉu mà, chỉ có cái nhìn sắc lạnh của thiên thần (hay ác quỷ?) bay khắp thành phố chứng kiến. Xét cho cùng, Gaspar Noé chắc chắn là một trong số ít những nhà làm phim luôn tìm cách đưa ra thứ gì đó mới đến với khán giả. Ở Enter the Void, đó chính là sự chuyển động của chiếc camera, mà theo tôi, nó mới thực sự là nhân vật trung tâm trong kiệt tác về thị giác này.

 

February 6, 2011

tổng kết năm cũ cái nhỉ?

Filed under: Films,lin tin — marcofogg @ 10:45 am

Bỗng dưng một ngày kia, chợt nhớ đến mình cũng từng chơi blog, và có 1 cái blog như thế này. Mò mãi mới sign in đúng được cái username và password. Giời thì biết bloggin’ cái gì bây giờ nhỉ? Thực tình trong năm qua cũng có nhiều cái định viết nhưng cứ mỗi lần như thế cái sự lười lại nổi lên (với biểu hiện là chậc lưỡi một cái, một mình mình sướng là đủ) nên lại thôi. Giờ thì không nhớ nổi nữa rồi. Đành cứ tổng kết tổng kiếc vậy (thực ra là khoe khoang chém gió tí) rồi tính sau

Mình vốn rất thích các con số (chẳng hạn như  qua việc rất hay làm data) dù trí nhớ thì tồi thôi rồi. Đành mở tàng kinh các ra check. Túm gọn là trong năm 2010, từ 1/1 đến 31/12, mình đã nghía được tổng cộng 443 phim các loại: ngắn, dài (fiction) và tài liệu (non-fiction) chưa kể một số phim xem lại (không nhiều lắm) ;)) Nhìn chung một năm miệt mài ăn-xem, ngủ-xem, chơi-xem nhưng vẫn không đạt được cột mốc 500 😦

Mở đầu 2010 là Xia Nu (A Touch of Zen, 1969) của đạo diễn Đài Loan Hồ Kim Thuyên (King Hu) va kết thúc bằng Sud sanaeha (Blissfully Yours, 2002) của anh zai Apichatpong ‘Joe’ Weerasethakul.

Cũng trong năm 2010, mình đổ bệnh tương tư với anh Hong Sang-soo, đồng thời tái khám phá lại anh Jang Sung-woo qua The Road to the Racetrack (1991). Chả biết mọi người thế nào, chứ với tớ, dường như anh Jang còn xứng danh là Bad Boy hơn nhiều so với Kim Ki-duk (ah ah tiết lộ một điều kiểu như trivia nhá: anh Hong va anh Kim là sinh cùng 1 năm, tuy nhiên một anh số ngày càng vượng còn anh kia thụt lùi thê thảm luôn).

Ah ha, năm 2010 cũng là năm mình finished trọn vẹn filmography của anh zai Thái Minh Lượng (Tsai Ming-liang). Đúng là một Master of Cinema 😦 Túm lại là 2010 là một năm tớ không còn xem phim tràn lan như trước nữa mà tập trung đánh có trọng điểm, công phá lô cốt hoành tráng :D.

Nhìn chung, 2010 là năm mở đầu cực đã cho việc xem phim của mình. Cá nhân mình khám phá (mở rộng) được nhiều chân trời kiến thức mới (chém gió phần phật), từ xa xôi hiểm trở như Argentina, Brazil, Hi Lạp cho đến gần shit như Thái Lan, Indonesia. Nói đến hai nước này, lòng quả thật buồn ghê gớm, điện ảnh khu vực người ta đã tiến đến level nao đó rất chi là cao siêu rồi í, còn với chúng ta, thế giới chỉ biết có 2 người: 1 là Đặng Nhật Minh còn anh kia là Trần Anh Hùng :)) (thực ra ở thể loại non-narrative người ta còn biết đến một cái tên VN khác nữa là Trinh T. Minh-ha, chỉ có điều chị í cũng là một trường hợp không mấy khác với Trần Anh Hùng)

(Hơ, tự nhiên lí bí, chả biết viết gì nữa về 2010, hmm)

Mở đầu năm 2011, tức là trong hơn 1 tháng qua, (trộm vía, nhờ cái cột mốc, bản lề 2010), tớ không thể sướng hơn được nữa khi rốt cuộc đã hoàn tất filmography của anh zai Hong Sang-soo. Đúng là một Master of Cinema! Điều đáng nói là cuối cùng thì Day and Night (2008) của anh í đã được xuất ra định dạng DVD, đẩy orgasm lên tối đa đối với các fan hâm mộ anh í :X như kiểu mình ở hiền gặp lành í 🙂

Hương khói nồng nàn quá, thôi khoe nốt phát cuối rồi kết cái bài tổng cục mở hàng năm mới vậy.  Đã hoàn tất filmography của anh zai Pen-Ek Ratanaruang. Tự hỏi bao giờ thì anh ấy làm tiếp được một masterpiece như Last Life in the Universe (2003) và được vinh danh ở Cannes như anh bạn đồng hương Joe? Dường như Nymph (2009) là một nỗ lực như thế, dù không mang lại kết quả mong đợi (có lẽ vì thiếu Christopher Doyle, Tadanobu Asano và Takashi Miike chăng?)

November 8, 2009

cuối tuần tự thú trước vợ

dạo này quả là có hơi bị quá tải, lượn lờ suốt ngày, phim xem ít, nếu đã xem thì xem quá nhiều, thường là 2 or 3 phim từ tối đến đêm, nên mệt.

sách vẫn tình trạng cũ, 2 không (không mua, không đọc). hehe thực ra mới đi shoppin’ nhưng lướt qua không thấy mấy cuốn cuốn hút mình. Đã sở hữu Nhiệt đới buồnDiệt Tần 5 (dĩ nhiên, là vợ đọc, tớ cũng muốn đọc, nhưng lười). Cuốn gần đây nhất tớ vừa kết thúc quá trình đọc là Solaris (mục đích rất đơn giản là để xem bộ phim cùng tên của Andrei Tarkovsky, nghe nói nặng nề lắm haizzz). lấy làm ngạc nhiên là một bản dịch tốt vậy (dù có vài lỗi văn bản nho nhỏ) mà không mấy nghe ai nhắc nhở đến. Thực ra, đã sờ đến cuốn Ngầm song sau mấy lần nỗ lực đều mang lại kết quả là cất trở lại giá sau khi lật vài chục trang (không hiểu mình nữa). Hiện đang ngâm cứu Alain Robbe-Grillet: Sự thật và diễn giải (đọc rất chậm với mục đích chủ yếu là killin’ time. tuy nhiên, có một điều tớ thấy khá vui là trong hai năm trở lại đây, tớ rất ít thấy sách Việt Nam có thêm tờ hiệu đính lỗi. ngoài cuốn này và Nghệ thuật là gì? thì tạm thời tớ không nhớ ra thêm cuốn nào nữa).

về phim:

+ (500) Days of Summer [2009, Marc Webb]: xem rạp và thấy overrated. cắt dán kiểu Memento không bao giờ là yếu tố đảm bảo cho việc thực sự tạo ra một bộ phim hay.

Rate: 6.0/10

Note: cậu Hisashi dịch phim này hay.

+ A Chinese Odyssey Part 1 & 2 [1994, Lưu Trấn Vĩ] thêm một nỗ lực làm lại danh tác [ngớ ngẩn và chán ngán] Tây Du Ký nữa [tớ thực sự tự hỏi người ta đã phí phạm không biết bao nhiêu sức lực và tiền bạc cho một saga phải nói là dở đến vậy, ngoài series do Đại lục làm chiếu trên TV hồi tớ và các bạn còn bé tí và say mê, tớ còn xem một phim mà Shaw Brothers làm nữa]. Về tổng thể, Tây Du Ký của Lưu Trấn Vĩ [đạo diễn kiêm tác giả kịch bản] quá ôm đồm và thừa thãi, mang nặng tính mùi mẫn câu khách rẻ tiền [dù là hơi lạ bởi Châu Tinh Trì cũng đóng phim tình cảm cơ đấy], trong khi vẫn phải cân đong đo đếm làm sao cho Tinh Tinh phát huy được lối hài nonsense đặc sản [sic]. Xem phần trả lời interview giữa Lưu Trấn Vĩ và một ông nào đó [hình như là thầy giáo dạy điện ảnh ở Hongkong hoặc đại lục] trong phần feature của DVD,  mới thấy hết sự phi lí trong thị hiếu của khán giả. Không thể hiểu nổi và nực cười khi đây là một cult classic đối với thanh niên Trung Quốc!

Rate: 5.5/10

Note 1: Thực chất đây là một phim được tách làm hai, chắc nhằm mục đích câu khác. Tuy nhiên, nếu xem dưới góc độ hai phim thì phần 2 chắc chắn khá hơn phần 1, bởi có plot rõ ràng hơn, cũng bớt đất diễn hài của Châu mà thay vào đó là biểu đạt nội tâm và mấy pha mùi mẫn thực sự [nếu bạn xem và thích các phim của Châu Tinh Trì, thì đây là cơ hội hiếm hoi. tranh thủ nói xấu vợ tí haha tớ đang tưởng tượng cảnh vợ tớ gục lên vai tớ lau nước mắt khi xem đoạn cuối phim này :)) ]

Note 2: [spoiler] hehe phần 2 có một đoạn spoof Ashes of Times của Vương Gia Vệ :)) dù đây không phải là một sáng tạo mới mẻ gì của Châu Tinh Trì song tớ vẫn thấy vui vui.

+ Le Samouraï [1967, Jean-Pierre Melville] phim quá hay, minimalist thriller/crime. xem xong, phải công nhận sức ảnh hưởng từ phim này quả là lớn. Ngô Vũ Sâm từ nhiều năm nay không biết bao nhiêu lần hứa hẹn sẽ remake phim này. toàn hứa hão và chắc chắn là shit.

Rate: 8.5/10

+ Hard-boiled [1992, Ngô Vũ Sâm]: phim “cuối cùng” Ngô Vũ Sâm làm ở Hongkong trước khi tếch sang Hollywood [2008 Ngô rốt cuộc cũng phải khăn gói quả mướp hồi hương và làm Red Clift-Xích Bích, mediocore và overrated]. Đấu súng điên cuồng, kính vỡ, thây người chết chất cao như núi, một dấu ấn đậm nét ‘author’ của Ngô. Xem xong tự hỏi một khi Châu Nhuận Phát bắt đầu khai hoả, bao giờ súng của anh mới hết đạn? [[câu trả lời: Ngô muốn tập cho khán giả thói quen tưởng tượng]

Rate: 6.5/10

Note: [Spoiler] trong đoạn gunfight tại bệnh viện ở cuối phim, có một cú long take gần 3 phút khá hay. nghe nói, Ngô còn muốn nó dài hơn, song do thiếu tiền, dù crew tình nguyện lao động không công, vẫn phải cắt. đáng tiếc! ngoài ra, hai đoạn anh Ngô làm caméo, đóng vai chủ quán jazz bar kiêm triết gia ban phát lời khuyên cho anh Châu, thừa thãi nhưng cũng vui vui.

+ The Killer [1989, Ngô Vũ Sâm] vì Từ Khắc sản xuất nên phim này quá bloody gore. và do vậy, là một mớ hỗn độn. chưa từng thấy một phim nào nhiều goof hơn phim này [cũng có thể do lần này tớ soi kĩ lưỡng và không buồn ngủ]. Đoạn đầu phim có thể dễ dàng nhận ra Ngô muốn remake Le Samouraï đến mức nào, song bởi vậy 99% khả năng sản phẩm mới, nếu có, sẽ shit đến thế nào.

Rate: 6.0/10

Note: Từ Khắc là quái vật ý tưởng, thiên tài về chi tiết nhưng nhảm nhí trong tổng thể.

Ngoài ra, đã xem Breaking News, Eye in the Sky, The Mission, xem lại PTU, Election 1 & 2, Running out of Time 1 & 2,Exiled. [sẽ short review riêng]

Next Page »

Create a free website or blog at WordPress.com.