Thái Vi

August 10, 2009

Snap-shot II: Love theme

Snap-shot II: Love theme

Love is all around us…

+ Diaro de una ninfómana [Diary of a Nymphomaniac, 2008, Christian Molina] là một câu chuyện kể về một cô gái được/bị mắc chứng nghiện sex [cuồng dâm] và quá trình cô ấy tìm kiếm bản ngã trong cuộc sống. Cách kể chuyện nhạt nhoà, không tạo ra được cảm giác hard-on cho người xem [tớ nhớ không nhầm thì một anh đạo diễn Tây rất rất nổi lềnh phềnh đã nói đại khái thế này: ‘nếu không làm người xem nứng thì bộ phim đó vứt đi’.] Xem ra những bộ phim định bạo dạn đi sâu vào các vùng cấm của đạo đức, cần phải có những tay rất chơi mới làm được.

Rate: 4.0/10

+ Salon Kitty [1976, Tinto Brass] là một cult classic masterpiece. Cabaret, S-M scenes made in Nazis, tất cả đều điên rồ, trần trụi và đôi chút hài hước. Nhược điểm trong Kitty của Tinto là hơi dài, làm phim đôi khi lệch khỏi hướng phát triển dự định, dù vẫn về đích an toàn. Tớ muốn xếp bộ phim này cùng loại và thứ hạng với Salò or the 120 days in Sodom. Nếu như cái của Pier Paolo Pasolini rõ rệt neo-realism thì của Tinto Brass lại vui hơn [dù về độ cult thì cũng chẳng biết cái của an nào cult hơn]. Một bộ phim dành cho những bạn muốn biết biết tình yêu kiểu Nazi là sao.

Rate: 7.5/10 [Trivia: bản tôi xem là Uncensored Director’s cut, có thêm vài cảnh mới so với các bản được phát hành trước đó.]

+ Một điểm khá kì quặc là khi vài tháng nữa thời điểm trọng đại trong đời sẽ  tới [Ngày Chúa lại đến, và có bao nhiêu mà hững hờ], tớ lại xem nhiều phim về S-M đến thế hehe [bệnh phết]. Cũng về SS, Nazi, nhưng ở thời điểm sau 1945, Il portiere di notte [The Night Porter, 1974, Liliana Cavani] actually là một câu chuyện tình yêu [kiểu SS]. Tớ rất thích đoạn [spoiler: nàng Charlotte Rampling hát và nhảy trong tình trạng topless giữa một bầy sĩ quan SS ngây ngất và tiếp đó chàng sĩ quan SS tặng nàng thủ cấp một tù nhân dare trêu ghẹo nàng; hình ảnh hai cái xác nằm cách nhau một quãng trên cầu]. Một phim đậm chất neo-realism và chả có gì controversial với tớ cả [ngoài một trường hợp thú vị về bệnh lí Stockholm Syndrome.] Một bộ phim đáng xem [và như thường lệ, from Criterion Collections, spine: #59.]

Rate: 8.0/10

+ L’uomo che ama [The Man Who Loves, 2008, Maria Sole Tognazzi] là một câu chuyện cliché [dù ở thời điểm này thì hơi hiếm hàng như vậy], song lại tầm thường từ nội dung [thông điệp?] đến cách thể hiện [hệt như diễn xuất của Monica Bellucci.]

Rate: 5.0/10

+ Mà xét ra, phương Tây trong yêu đương kém xa so với phương Đông. Một ví dụ kinh điển cho nhận xét [vớ vẩn] này là Ai no corrida [In the realm of senses, 1976, Nagisa Ôshima]. Tớ có đọc loạt bài viết về điện ảnh Nhật Bản của quý anh Lê Hồng Lâm trên TT&VH. Theo tớ, thì đây là bài viết mang tính “xoá mù”, nên không có điểm gì đáng chú ý. Ngoại trừ một chi tiết là trong bài [hình như cuối cùng], bác Nguyễn Vĩnh Sơn có nói là hầu như đạo diễn [hay ai đó trong nghề] mà bác nói chuyện đều khen ngợi [hay ảnh hưởng?] từ Yasujiro Ozu. Thật đáng ngạc nhiên là trong bài viết ngay trước đó, bác Lâm lại không hề nhắc đến chủ trương anti-Ozu trong phim của Ôshima. Tán nhảm vậy thôi, với tớ Ai no corrida là một kiệt tác. Những cảnh làm tình sống sượng thật như không thể thật hơn, diễn xuất nhập vai xuất thần của hai diễn viên chính, chủ đề thể hiện mang tính cấm kị [taboo] không chỉ ở phương Đông, bộ phim đích xác là một thái độ phản kháng quyết liệt không chỉ đối với phong cách làm phim của Ozu mà còn cả đạo đức xã hội nói chung [nếu tớ không nhầm, đến nay bộ phim vẫn còn bị cấm chiếu ở một số nước]. Một bước ngoặt của điện ảnh thế giới! [also from Criterion Collection, spine: #466]

Rate: 9.5/10

+ Hiện thực trần trụi [trong ngành an ninh, và dựa trên sự kiện có thật], hằm hằm sát khí, đầy [nước] mưa và tội ác [có lẽ ẩn dụ mới (?) về tội ác hiện nay là mưa chứ không phải bóng tối, xem Se7en hay Snake of June để biết thêm chi tiết] là MR73 [2008, Olivier Marchal]. Xuất thân là diễn viên, nhưng xem ra Marchal làm đạo diễn cũng không thiếu duyên dáng. Một bộ phim Pháp đáng xem trong năm 2008!

Rate: 7.5/10

+ Watchmen – Who will save us now? [2009, Zack Snyder]. Tôi rất thích đoạn opening credit đầy sáng tạo của phim này, với những hình ảnh về các sự kiện có thật trong lịch sử nước Mỹ được lồng ghép với nội dung của bộ truyện tranh gốc. Phải nói là mặc dù hoàn toàn không thích 300, song Watchmen là một bộ phim xem được trong năm 2009 [xét trên nhiều phương diện như CGI, phục trang, những cảnh gore, nhạc nền… ] Tôi không chắc lắm mình có hiểu đúng về thông điệp quá “triết” [chuyện, đầu mỗi tập đều dẫn Nietzsche, khiếp quá] mà bộ truyện gốc muốn chuyển tải hay không, song xét về mặt hình ảnh thể hiện [khuôn hình] phim khá trung thành với truyện [có một chi tiết vui vui dạng trivia: căn hộ mà nhân vật Comedian ở mang số 300! và một chi tiết vui khác: ‘củ cải xanh’ của Dr. Manhattan trong phim hoành tráng hơn trong truyện =))]

Rate: 8.0/10

+ Låt den rätte komma in [Let the right one in, 2008, Tomas Alfredson] là một thành công [classical masterpiece?] tức thì [giống như Insomnia của Erik Skjoldbjaerg năm 1997. Đã có tin về một dự án remake kiểu Mỹ, tuy nhiên có lẽ không nên quan tâm tới nó. Bởi trước hết Let the right one in bản thân đã là một phim rất original [CGI được sử dụng rất tiết chế, hoặc tinh tế, khó phát hiện], mà theo tớ chính là một yếu tố quan trọng góp phần cho sự thành công của nó. Nếu có điểm yếu thì có lẽ phim hơi tản mát, phân tán sự tập trung của người xem [có thể do trung thành với tiểu thuyết chăng? hoặc một số chi tiết hơi bệnh (spoiler) như paedophile, lạm/lợi dụng trẻ em. bạo lực, bí ẩn hình ảnh chỗ kín của Eli.] Tuy vậy, trong một thời điểm rối ren như hiện nay, một tác phẩm hay xem được như vậy là quá hiếm hoi.

Rate: 9.5/10

+ Tạo cho tôi một cảm giác hồi cố về quá khứ, với những bộ phim đen trắng tuyệt đẹp và ấn tượng thị giác lẫn trí tưởng tượng ghê gớm là La frontière de l’aube [Frontier of the Dawn, 2008, Philippe Garrel]. Một câu chuyện tình yêu buồn, bí ẩn, day dứt và ám ảnh.

Rate: 8.0/10

+ Akira [Katsuhiro Ôtomo, 1988]. Xem lần hai, với khoảng cách giữa hai lần là bốn năm. Và ấn tượng tăng lên theo thời gian. Một kiệt tác!

Rate: 10/10.

+ As tears go by [1988] dường như chỉ là một bước đệm để đạo diễn Wong Kar-wai [Vương Gia Vệ] bước chân ra thế giới. Thuần chất chỉ là một typical Hongkong gangster film, song không khó để người xem nhận ra những chất riêng đã tạo ra tên tuổi sau này của Vương.

Rate: 6.0/10

+ Ra đời hai năm sau As tears go by, song Days of Being Wild [1990] gần như theo một phong cách thể hiện khác hẳn mà đạo diễn Vương Gia Vệ vẫn trung thành đến tận bây giờ [dù chủ đề chính trong các phim của ông đã, đang và sẽ vẫn luôn là LOVE]. Theo tôi, đây chính là kiệt tác đầu tiên trong sự nghiệp lẫy lừng của Vương.

Rate: 9.0/10

+ Thật ra theo tôi hơi khó để xếp Shine a light [Martin Scorsese, 2008] là một bộ phim tài liệu [documentary] đúng nghĩa. Nó dường như là một live show riêng của Rolling Stones, kèm một số đoạn tư liệu có từ trước. Và thú thật, tôi chả mấy thấy the Stones hay ho, điểm sáng ở phim này chính là những khách mời: Jack White từ White Stripes và Buddy Guy. Khi họ cất tiếng hát thì cũng là lúc ta nhận thấy tuổi tác thật sự ảnh hưởng tới the Stones thế nào. Nói chung, nhịp lăn của đá đã chậm và gừng già đã bớt cay.

Rate: 6.0/10

Advertisements

1 Comment »

  1. 😐 hì hục xem mấy tháng nay rồi làm một quả short review như này, tính giết người à? toàn phim tớ chưa xem. kêu trước là để khi ra sẽ [mượn] mang về đấy nhá! hề hề.

    Comment by imagine — August 12, 2009 @ 2:31 pm | Reply


RSS feed for comments on this post.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Create a free website or blog at WordPress.com.

%d bloggers like this: