I can’t stop vomitting
- http://www.spiegel.de/international/world/0,1518,753797,00.html#ref=nlint
I can’t stop vomitting

Moy drug Ivan Lapshin (My friend Ivan Lapshin, Aleksei German, 1983)
Ngay từ giây phút đầu tiên, bộ phim đã khiến tôi phải há hốc mồm kinh ngạc. Chủ yếu dùng camera cầm tay, và rất nhiều cú long take cũng như tracking shot, My friend Ivan Lapshin giống như một cuốn phim tài liệu lịch sử quý giá. Phim dựng nên một nơi chốn nặc danh nào đó, một thị trấn nhỏ tàn lụi với những con người trần tục, nghèo đói, trầm uất. Hơn hết, phim miêu tả một cách lạnh lùng quá trình tha hoá không phanh về đạo đức và nhân tính của cả một lớp người nói chung trong xã hội (censored) thời hậu chiến, báo hiệu một thời kỳ khủng bố kinh hoàng sắp đến, trên quy mô lớn. Hoặc giả, nó ĐÃ tới, âm thầm và len lỏi, ít người nhận ra. Cả bộ phim là một loạt những sự kiện trong quá khứ được kể lại theo trí nhớ của người kể chuyện. Và đến tận cùng, người ta vẫn không rõ ai mới là nhân vật chính trong bộ phim này? Phải chăng đó là Ivan Lapshin? Một kiệt tác trên mọi phương diện của điện ảnh Soviet nói riêng và điện ảnh thế giới nói chung. Và kiệt tác là không tuổi. Ở một số nơi, vấn đề mà My Friend Ivan Lapshin đặt ra vẫn luôn rất mới và người dân những nơi đó có lẽ không bao giờ quên được.
Enter the Void (Gaspar Noé, 2009)
Rate: 5/5
Gaspar Noé vẫn vậy. Mỗi lần xem phim của ông,là một lần tôi ngả mũ kính phục trước tham vọng (đẩy lên tới hạn những đường biên có thể của ngôn ngữ điện ảnh?), sự khiêu khích khán giả về chủ đề (dường như phi đạo đức) của bộ phim cùng những ý tưởng kì quái nhưng thiên tài trên phương diện kĩ thuật (quá trình sáng tạo tác phẩm) của Noé. từ I Stand Alone (1998) đến Irrévesible (2002). Lần này, Enter the Void, sau 8 năm chờ đợi, tiếp tục là một kiệt tác, tiếp tục là sự nối dài của một cơn điên loạn tập thể, đặc biệt trên phương diện kĩ xảo và camerawork. Tuy nhiên, điều khác biệt giữa Enter the Void với Irrévesible, đó là bộ phim mới mang tính nhân văn nhiều hơn, thậm chí còn có chiều sâu về triết lí (Phật giáo, luân hồi, quả báo…). Thế giới siêu hình trong Enter The Void chính là thành phố Tokyo hiện đại về đêm, và trong cái quan sát (camera), góc nhìn của (spoiler-kiểm duyệt) (hay là của chính Noé?) nó đựoc tái tạo lại đầy đủ phần rực rỡ nhất, song mang màu sắc ảo giác của ánh đèn neon, và phần còn lại tăm tối, chật hẹp, bẩn thỉu mà, chỉ có cái nhìn sắc lạnh của thiên thần (hay ác quỷ?) bay khắp thành phố chứng kiến. Xét cho cùng, Gaspar Noé chắc chắn là một trong số ít những nhà làm phim luôn tìm cách đưa ra thứ gì đó mới đến với khán giả. Ở Enter the Void, đó chính là sự chuyển động của chiếc camera, mà theo tôi, nó mới thực sự là nhân vật trung tâm trong kiệt tác về thị giác này.
Bỗng dưng một ngày kia, chợt nhớ đến mình cũng từng chơi blog, và có 1 cái blog như thế này. Mò mãi mới sign in đúng được cái username và password. Giời thì biết bloggin’ cái gì bây giờ nhỉ? Thực tình trong năm qua cũng có nhiều cái định viết nhưng cứ mỗi lần như thế cái sự lười lại nổi lên (với biểu hiện là chậc lưỡi một cái, một mình mình sướng là đủ) nên lại thôi. Giờ thì không nhớ nổi nữa rồi. Đành cứ tổng kết tổng kiếc vậy (thực ra là khoe khoang chém gió tí) rồi tính sau
Mình vốn rất thích các con số (chẳng hạn như qua việc rất hay làm data) dù trí nhớ thì tồi thôi rồi. Đành mở tàng kinh các ra check. Túm gọn là trong năm 2010, từ 1/1 đến 31/12, mình đã nghía được tổng cộng 443 phim các loại: ngắn, dài (fiction) và tài liệu (non-fiction) chưa kể một số phim xem lại (không nhiều lắm)
) Nhìn chung một năm miệt mài ăn-xem, ngủ-xem, chơi-xem nhưng vẫn không đạt được cột mốc 500
Mở đầu 2010 là Xia Nu (A Touch of Zen, 1969) của đạo diễn Đài Loan Hồ Kim Thuyên (King Hu) va kết thúc bằng Sud sanaeha (Blissfully Yours, 2002) của anh zai Apichatpong ‘Joe’ Weerasethakul.
Cũng trong năm 2010, mình đổ bệnh tương tư với anh Hong Sang-soo, đồng thời tái khám phá lại anh Jang Sung-woo qua The Road to the Racetrack (1991). Chả biết mọi người thế nào, chứ với tớ, dường như anh Jang còn xứng danh là Bad Boy hơn nhiều so với Kim Ki-duk (ah ah tiết lộ một điều kiểu như trivia nhá: anh Hong va anh Kim là sinh cùng 1 năm, tuy nhiên một anh số ngày càng vượng còn anh kia thụt lùi thê thảm luôn).
Ah ha, năm 2010 cũng là năm mình finished trọn vẹn filmography của anh zai Thái Minh Lượng (Tsai Ming-liang). Đúng là một Master of Cinema
Túm lại là 2010 là một năm tớ không còn xem phim tràn lan như trước nữa mà tập trung đánh có trọng điểm, công phá lô cốt hoành tráng
.
Nhìn chung, 2010 là năm mở đầu cực đã cho việc xem phim của mình. Cá nhân mình khám phá (mở rộng) được nhiều chân trời kiến thức mới (chém gió phần phật), từ xa xôi hiểm trở như Argentina, Brazil, Hi Lạp cho đến gần shit như Thái Lan, Indonesia. Nói đến hai nước này, lòng quả thật buồn ghê gớm, điện ảnh khu vực người ta đã tiến đến level nao đó rất chi là cao siêu rồi í, còn với chúng ta, thế giới chỉ biết có 2 người: 1 là Đặng Nhật Minh còn anh kia là Trần Anh Hùng
) (thực ra ở thể loại non-narrative người ta còn biết đến một cái tên VN khác nữa là Trinh T. Minh-ha, chỉ có điều chị í cũng là một trường hợp không mấy khác với Trần Anh Hùng)
(Hơ, tự nhiên lí bí, chả biết viết gì nữa về 2010, hmm)
Mở đầu năm 2011, tức là trong hơn 1 tháng qua, (trộm vía, nhờ cái cột mốc, bản lề 2010), tớ không thể sướng hơn được nữa khi rốt cuộc đã hoàn tất filmography của anh zai Hong Sang-soo. Đúng là một Master of Cinema! Điều đáng nói là cuối cùng thì Day and Night (2008) của anh í đã được xuất ra định dạng DVD, đẩy orgasm lên tối đa đối với các fan hâm mộ anh í :X như kiểu mình ở hiền gặp lành í
Hương khói nồng nàn quá, thôi khoe nốt phát cuối rồi kết cái bài tổng cục mở hàng năm mới vậy. Đã hoàn tất filmography của anh zai Pen-Ek Ratanaruang. Tự hỏi bao giờ thì anh ấy làm tiếp được một masterpiece như Last Life in the Universe (2003) và được vinh danh ở Cannes như anh bạn đồng hương Joe? Dường như Nymph (2009) là một nỗ lực như thế, dù không mang lại kết quả mong đợi (có lẽ vì thiếu Christopher Doyle, Tadanobu Asano và Takashi Miike chăng?)
Theme: Rubric. Blog at WordPress.com.